Ghép thận là mô thức điều trị mang lại hiệu quả và chất lượng sống tốt nhất cho người bệnh bị suy thận mạn giai đoạn cuối. Nguồn thận hiến có thể từ người hiến sống, người hiến chết não hay người hiến ngưng tuần hoàn. Hiện trên thế giới chỉ có khoảng 10-20% người bệnh suy thận mạn được ghép thận, còn lại phải chạy thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc. Tại Việt Nam, hiện chưa có số liệu thống kê chính thức, tuy nhiên ước tính có khoảng 40.000-50.000 người bệnh bị suy thận mạn giai đoạn cuối cần điều trị thay thế thận. Mỗi năm có khoảng 1000-1500 người bệnh được ghép thận. Như vậy ước tính khoảng 20 - 25% người bệnh cần điều trị thay thế thận được ghép thận. Rào cản lớn nhất cho vấn đề này là nguồn thận hiến (văn hóa, tôn giáo..) và các bất thường ở người nhận thận...
Ngày 22 tháng 7 năm 2026 vừa qua, Bệnh viện Nhân dân 115 - Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh đã phẫu thuật thành công ca ghép thận cho một người bệnh, điều đặc biệt ở người bệnh này là ghép lần thứ 3 với tình trạng bất thường mạch máu. Ông N.V. M 57 tuổi, quê Cà Mau, đã trải qua 2 lần ghép thận trước đó, lần thứ nhất ghép thận tại hố chậu bên phải (đã được mổ lấy bỏ thận ghép do thải ghép) cách đây 10 năm, lần thứ 2 ghép tại hố chậu bên trái. Cách đây 2 năm thận ghép suy chức năng ông phải quay lại chạy thận nhân tạo 3 lần / ngày. Là trụ cột trong gia đình, việc chạy thận nhân tạo làm cho ông không làm việc được, người vợ phải đi theo chăm sóc mỗi khi chạy thận nhân tạo. Một quyết định vô cùng cảm kích của người vợ là sẵn sàng hiến 1 quả thận cho chồng. Hai vợ chồng đến trung tâm Thận niệu - Bệnh viện Nhân dân 115 khám, tư vấn, kiểm tra và được các bác sĩ thông báo người vợ đủ điều kiện để hiến thận cho chồng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là người chồng đã ghép thận 2 lần, tồn tại kháng thể kháng HLA cao, nguy cơ thải ghép lớn. Mặt khác, ông có tiền sử mổ chấn thương bụng (với vết sẹo từ mũi ức tới gần xương mu) và 2 vết sẹo sau mổ ghép thận ở 2 bên hố chậu. Chưa hết, khi chụp cắt lớp vi tính mạch máu ghi nhận bị vôi hóa hệ động mạch chủ ngực, bụng, chậu. Đây là vấn đề khó khăn chọn vị trí để khâu nối mạch máu thận ghép với mạch máu người nhận.

Hình 1. Ba vết sẹo cũ trên bụng.

Hình 2. Vôi hóa hệ động mạch
Sau khi hội chẩn chuyên môn, chúng tôi quyết định ghép thận cho người bệnh, nhưng phải chuẩn bị tất cả các phương án như:
Về mặt miễn dịch: người bệnh tồn tại hệ miễn dịch với nguy thảy ghép rất cao do đó người bệnh được thay huyết tương (tổng cộng 4 lần) thử lại xét nghiệm cho phép mổ ghép. Sử dụng dẫn nhập bằng ATG (Anti Thymocyte Globulin) là Globulin kháng tế bào tuyến ức, thuốc ức chế miễn dịch mạnh.
Về mặt ngoại khoa: lấy thận trái của người vợ qua nội soi ổ bụng để ghép vào hố chậu phải người chồng (thận ghép cũ bên phải chúng tôi đã cắt để chỗ cho quả thận mới ghép). Chọn vị trí động mạch chậu chung sát chỗ phân chia (nơi ít vôi hóa nhất) để khâu nối động mạch, chuẩn bị mạch máu nhân tạo sẵn sàng làm cầu nối khi cần.
Ê kíp mổ khoa Ngoại Niệu – Ghép thận đứng đầu là PGS.TS.BS Trương Hoàng Minh ghi nhận thực tế trong mổ: việc bộc lộ các phẫu trường, bộc lộ động mạch và tĩnh mạch kể cả bàng quang để cắm niệu quản cũng gặp khó khăn do dính bởi vết mổ cũ. Tuy nhiên, với sự cẩn thận tỉ mỉ của các phẫu thuật viên cuộc mổ thành công. Nước tiểu phun thành tia ngay sau khi mở kẹp mạch máu. Chức năng thận cải thiện tốt ngay ngày hậu phẫu thứ nhất, người bệnh tỉnh táo, ăn uống bình thường.
Những khó khăn khi ghép thận lần 3 như: nguy cơ miễn dịch cao ( PRA: Panel Reactive Antibody, DSA: Donor Specific Antibody), khó khăn về phẫu thuật (sẹo cũ gây dính, mạch máu xơ vữa, đã sử dụng ghép lần 1 và 2, bàng quang viêm dính. Việc lựa chọn vị trí ghép như phải lấy bỏ thận ghép cũ để có chỗ cho thận ghép mới và thường phải ghép cao hơn vị trí ghép cũ, do đó niệu quản phải lấy dài hơn, nguy có thiếu máu niệu quản. Đôi khi phải khâu nối với động mạch và tĩnh mạch chủ bụng. Ở người bệnh này, động mạch chủ bụng bị xơ vữa và vôi hóa nên chúng tôi chọn vị trí động mach chậu chung gần chỗ phân chia của động mạch chủ bụng đề khâu nối vì ít xơ vữa nhất trên CT-Scan mạch máu. Về kết quả ghép thận lần 3 theo y văn mặc dù thấp hơn ghép thận lần đầu nhưng tỷ lệ sống còn của người bệnh vẫn cao hơn chay thận nhân tạo ( 75-85% sau 1 năm, 55-70% sau 5 năm). Các yếu tố tiên lượng như: người hiến sống, tuổi người hiến trẻ, DSA thấp hoặc không có, PRA không quá cao. Với người hiến chết não: chỉ số hồ sơ người hiến KDPI ( Kidney Donor Profile Index) thấp, thời gian thiếu máu lạnh ngắn sẽ có tiên lượng tốt.
Bệnh viện Nhân dân 115 đã thực hiện ghép thận từ người hiến sống từ năm 2004, và từ người hiến chết não năm 2025. Bệnh viện đã thực hiện nhiều trường hợp ghép thận lần 2 và đây là ca đầu tiên ghép thận lần 3 tại bệnh viện Nhân dân 115 và là ca bệnh thứ 2 tại Việt Nam. Ca ghép thận lần 3 được thực hiện đầu tiên tại Bệnh viện Vinmec Times City ( Việt Nam) vào tháng 01/2017 cho một người bệnh Nhật 71 tuổi. Ghép thận lần 3 cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối thể hiện trình độ ngoại khoa, miễn dịch và chăm sóc người bệnh sau ghép thận tại Việt Nam không thua kém các nước phát triển, góp phần phát triển lĩnh vực ghép thận mang lại chất lượng cuộc sống cho người bệnh suy thận mạn.
TTƯT. PGS.TS. BS. Trương Hoàng Minh
Trưởng Trung tâm thận niệu – Nam khoa Bệnh viện Nhân Dân 115