Chuyên khoa: Bác sĩ đa khoa.
Ngôn ngữ: Anh văn trình độ C.
Trường y: Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 1999.
Bằng cấp chuyên môn:
- Bác sĩ chuyên khoa cấp I: Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh năm 2008
- Bác sĩ chuyên khoa cấp II: Đại học Y dược Huế năm 2015
Đào tạo nâng cao:
- Siêu âm thực hành: Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 2003
- Viêm gan siêu vi: Bệnh viện Nhiệt đới 2012
- Đốt u gan bằng sóng cao tần (RFA): Bệnh viện Chợ Rẫy 2012
Kinh nghiệm:
- Từ năm 2000-2002: Bác sĩ Bệnh viện Quận 10
- Từ năm 2003 -2014: Bác sĩ điều trị khoa Nội Tiêu Hóa bệnh viện Nhân Dân 115.
- Từ tháng 2015 - 2024: Phó Trưởng khoa Nội Tiêu Hóa bệnh viện Nhân Dân 115
- Từ 01/2025 - nay: Phó Trưởng khoa, Phụ trách quản lý điều hành khoa Nội Tiêu Hoá bệnh viện Nhân Dân 115
Khen thưởng:
- Năm 2013: bằng khen của Ủy ban Nhân dân TP.HCM
- Năm 2014: Chiến sĩ thi đua cấp thành phố
- Năm 2016 đến nay : Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, của Sở Y tế
- Năm 2020: Bằng khen của chủ tịch ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh đã hòan thành xuất sắc nhiệm vụ 2 năm liền 2018, 2019
- Năm 2021: Bằng khen của chủ tịch ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh đã có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống dịch Covid -19
- Năm 2023: Bằng khen của chủ tịch ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh đã hòan thành xuất sắc nhiệm vụ 2 năm liền 2022, 2023.
Công trình khoa học:
- Nghiên cứu đánh giá xơ hóa gan trên bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu bằng kỹ thuật ARFI phối hợp với chỉ số xơ hóa NAFLD. ( Hội nghị khoa học bệnh viện Nhân Dân 115 năm 2016)
- Nghiên cứu ngẫu nhiên, nhãn mở, đa trung tâm, giai đoạn 3b nghiên cứu tính hiệu lực và an toàn của Sofosbuvir cộng với Ribavirin (+ Pegylated Interferon) ở các đối tượng nhiễm vi-rut viêm gan C mạn tính kiểu gien 1,2,3 và 6 (2015)
- Nghiên cứu nhãn mở, đa trung tâm, giai đoạn 3 nhằm nghiên cứu tính hiệu lực và an toàn của kết hợp liều cố định SofosbuvirGS-5816 trong 12 tuần ở đối tượng nhiễm virut viêm gan C mạn tính (MS: GS-US_342_1518) (2016)
- Nghiên cứu giai đoạn III, ngẫu nhiên, mù đôi, mô phỏng kép, đối chứng với giả dược của ThermoDox® (Lyso-Thermosensitive Liposomal Doxorubicin-LTLD) trên bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) sử dụng phương pháp đốt sóng cao tần (RFA) chuẩn hóa với thời gian điều trị ≥ 45 phút đối với các tổn thương đơn độc kích thước ≥ 3 cm tới ≤ 7 cm” (Nghiên cứu OPTIMA 2017)
- Tỷ lệ và đặc điểm bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ở bệnh nhân phát hiện gan nhiễm mỡ trên siêu âm. Tạp chí gan mật.
- Nghiên cứu pha III nhãn mở, ngẫu nhiên, đa trung tâm về durvalumab và tremelimumab trong điều trị bước 1 ở bệnh nhân ung thư tế bào gan quá chỉ định phẫu thuật ( HIMALAYA 2018).
- Nghiên cứu pha ba, ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược, đa trung tâm, phối hợp điều trị bằng nút hoá chất động mạch (TACE) với đơn trị liệu Durvalumab hoặc Durvalumab kết hợp Bevacizumab ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị tại chỗ (EMERALD – 1) (năm 2020).
- Nghiên cứu pha ba ngẫu nhiên, nhãn mở, làm mù nhà tại trợ, đa trung tâm về Durvalumab phổi hợp Tremelimumab + Lenvatinib điều trị đồng thời cũng nút hoá chất động mạch (TACE) so sánh với TACE đơn độc ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn khu trú tại vùng (EMERALD – 3) (năm 2022).
- Nghiên cứu pha IIIb, nhãn mở, đơn nhánh, đa trung tâm, về Durvalumab và Tremelimumab như điều trị bước đầu ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tiến xa (Nghiên cứu SIERRA)
- Tỷ lệ hiện mắc và đặc điểm lâm sàng bệnh gan nhiễm mỡ liên quan chuyển hóa trong dân số thừa cân, béo phì. Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch. 2024; 3(4)
- Tình trạng xơ hóa gan và nhiễm mỡ gan ở bệnh nhân thừa cân, béo phì mắc bệnh gan nhiễm mỡ liên quan chuyển hóa. Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch. 2024; 3(4)
Bệnh viện Nhân dân 115